SỐ LƯỢT TRUY CẬP

3
0
8
8
2
4
4
1
Kinh tế - Xã hội 17 Tháng Tám 2020 6:30:00 CH

Quy định trách nhiệm của cá nhân, gia đình và các cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình

Bạo lực gia đình (BLGĐ) là vấn nạn của xã hội, gây nhức nhối cho nhân loại, để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng cho con người, nhất là đối với phụ nữ, trẻ em. Hơn thế nữa, hiện nay nó dần trở thành như một sự việc, hiện tượng đáng quan tâm của toàn xã hội. Do đó, đứng trước thực trạng báo động số vụ BLGĐ hiện nay, đòi hỏi phải có sự chung tay, trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị và các tổ chức, cá nhân, gia đình và cộng đồng thực hiện phòng, chống BLGĐ.

Trước hết là trách nhiệm của cá nhân và gia đình (trích tại Điều 32. Luật Phòng, chống BLGĐ quy đinh) như sau: Giáo dục, nhắc nhở thành viên gia đình thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống BLGĐ, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác; Hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình; can ngăn người có hành vi BLGĐ chấm dứt hành vi bạo lực; chăm sóc nạn nhân BLGĐ; Phối hợp với cơ quan, tổ chức và cộng đồng dân cư trong phòng, chống BLGĐ; Thực hiện các biện pháp khác về phòng, chống BLGĐ theo quy định của Luật này. Phải khẳng định rằng gia đình và thành viên gia đình đóng một vai trò rất quan trọng trong công tác phòng, chống BLGĐ. Bất cứ thành viên nào trong gia đình cũng có thể có hành vi BLGĐ: con mắng cha, vợ chì chiết chồng, mẹ chồng ruồng rẫy con dâu, anh em tranh chấp tài sản dẫn đến đánh nhau...; đồng thời, chính họ cũng dễ dàng trở thành nạn nhân của BLGĐ. Tuy nhiên, trên thực tế đã cho thấy nhiều trường hợp các thành viên khác trong gia đình đã tiếp tay cho hành vi bạo lực như: mẹ xúi con trai “giáo dục” vợ bằng nắm đấm; ông bà yêu cầu phải nghiêm khắc dạy dỗ cháu... Những hành động này phần nhiều không xuất phát từ ý xấu mà chỉ do quan niệm khác nhau của mỗi người, nhưng lại tác động rất lớn đến người thực hiện hành vi bạo lực. Chính vậy, pháp luật đã quy định gia đình và các thành viên gia đình phải có những trách nhiệm, phải có sự chủ động nhất định trong phòng, chống BLGĐ: giáo dục, nhắc nhở, hòa giải mâu thuẩn giữa các thành viên, ngăn chặn người có hành vi bạo lực; chăm sóc nạn nhân... Pháp luật không quy định đây là nghĩa vụ mà chỉ là trách nhiệm của gia đình và các thành viên. Tuy nhiên, nếu có những hành vi bị cấm trong phòng, chống BLGĐ thì họ phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, Luật Phòng, chống BLGĐ còn quy định rõ trách nhiệm của các cá nhân (quy định tại Điều 31 của Luật Phòng, chống BLGĐ) cụ thể: Thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống BLGĐ, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác; kịp thời ngăn chặn hành vi BLGĐ và thông báo cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền; những quy định này nhằm nâng cao tính chủ động, tính cực của các cá nhân trong xã hội đối với việc phòng, chống BLGĐ cũng như giúp đỡ nạn nhân. Luật Phòng, chống BLGĐ đã nêu lên trách nhiệm của rất nhiều cơ quan, tổ chức, trong đó có thể kể tới trách nhiệm của UB.MTTQVN và các tổ chức thành viên, cụ thể quy định tại Điều 33 của Luật Phòng, chống BLGĐ. Bên cạnh đó, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam có trách nhiệm rất quan trọng, cụ thể quy định tại Điều 33 của Luật Phòng, chống BLGĐ: Tổ chức cơ sở tư vấn về phòng, chống BLGĐ, cơ sở hỗ trợ nạn nhân BLGĐ; tổ chức các hoạt động dạy nghề, tín dụng, tiết kiệm để hỗ trợ nạn nhân BLGĐ; phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan để bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân BLGĐ.

UBND các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống BLGĐ tại địa phương. Trách nhiệm của một số Bộ, ngành cũng được ghi cụ thể tại các Điều từ 36 đến Điều 41.

                                                            PHÒNG VĂN HÓA VÀ THÔNG TIN


Số lượt người xem: 269    
Xem theo ngày Xem theo ngày
  • Hào khí Hóc Môn - Bà Điểm
Tìm kiếm